[dịch trích đoạn Il giorno della civetta của Leonardo Sciascia]
Đại uý Bellodi đang đọc tờ nhật báo Sicilia, vốn nổi tiếng thận trọng và hầu như chưa bao giờ dám mảy may chỉ trích lực lượng an ninh, về một manh mối mà theo họ, cảnh sát đã bỏ qua. Đó là “manh mối tình ái”, dĩ nhiên rồi. Giả như ai đó không biết những chứng cứ xác thực mà cuộc điều tra đã thu thập, thì có khi đầu mối ấy chỉ đủ để lý giải một vụ án, còn hai vụ kia sẽ vẫn chìm trong bóng tối đặc quánh. Có lẽ tay phóng viên, nhân dịp ghé thị trấn S., đã tiện thể ghé tiệm cạo của lão don Ciccio; và chính câu chuyện về mối tình vụng trộm giữa vợ của Nicolosi và gã Passerello hóng được đã khơi gợi trí tưởng tượng của anh ta. “Hãy tìm người đàn bà đi”, tay phóng viên hiến kế, vừa như một nhà báo bản lĩnh, vừa như một người Sicilia điển hình. Nhưng theo đại uý, lẽ ra cảnh sát ở Sicilia phải tuân thủ nguyên tắc ngược lại là đừng tìm người đàn bà. Bởi vì ở đây, tìm là sẽ thấy, và khi thấy rồi, thì công lý lại chịu thiệt.
Án tình ở Sicilia – đại uý Bellodi nghĩ – thường không bắt nguồn từ khát khao cháy bỏng của con tim, mà từ một thứ đam mê trí tuệ, hay đúng hơn là một nỗi ám ảnh mang tính hình thức, nói thế nào được nhỉ, về mặt pháp lý. Nghĩa là, theo tư duy trừu tượng, qua từng cấp xét xử, các đạo luật được mài dũa đến độ trở nên trong suốt, rỗng ruột, để rồi phần cốt lõi – tức trọng lượng con người của sự việc – không còn chút giá trị nào; và khi hình ảnh con người bị xóa bỏ, pháp luật chỉ còn soi bóng chính nó trong gương. Bellodi chợt nhớ đến nhân vật Ciampa trong Cái mũ lục lạc của Luigi Pirandello: hắn nói năng như thể trong miệng mình chứa toàn thể Tòa án Giám đốc thẩm Tối cao hợp lại, mổ xẻ và tái dựng hình thức một cách tỉ mỉ mà không hề chạm vào bản chất vụ việc. Ngay những ngày đầu mới tới thị trấn C., Bellodi đã gặp một “Ciampa” như thế, chẳng khác gì nhân vật của Pirandello, tới văn phòng ông không phải để “tìm tác giả”, bởi y đã tìm thấy ở bậc đại văn hào rồi, mà để tìm một người ghi chép biên bản tinh vi, khúc chiết; và cho rằng viên trung sĩ không đủ khả năng nắm bắt “họa tiết logic” phức tạp của mình, y nhất quyết đòi nói chuyện với một sĩ quan cho bằng được.
Và điều đó, đại úy nghĩ tiếp, bắt nguồn từ thực tế rằng gia đình là thể chế duy nhất thực sự sống động trong ý thức người Sicilia, nhưng không phải cái thứ sống động của một cộng đồng tự nhiên gắn bó tình cảm, mà như một nút thắt kịch tính của hợp đồng mang tính pháp lý. Gia đình chính là “Nhà nước” của người Sicilia. Còn Nhà nước, theo nghĩa mà chúng ta hiểu, thì ở bên ngoài, là một thực thể được thiết lập bằng sức mạnh, áp đặt thuế má, nghĩa vụ quân dịch, chiến tranh, cảnh sát. Bên trong cái thể chế gọi là gia đình ấy, người Sicilia bước qua ranh giới của nỗi cô độc bẩm sinh và bi thảm của mình để thích nghi bằng một hợp đồng khéo léo về mối quan hệ và sự chung sống. Nhưng bảo họ vượt qua ranh giới giữa gia đình và Nhà nước thì e rằng quá sức. Họ có thể hăng hái với lý tưởng Nhà nước, thậm chí leo lên cầm quyền; nhưng khuôn khổ cuối cùng và rõ rệt nhất về quyền lợi và bổn phận của họ vẫn là gia đình, thứ cho phép họ rút ngắn bước đường quay lại với niềm cô độc vinh quang.
Đại úy Bellodi nhẩm lại trong đầu những suy nghĩ này, trong đó văn chương lúc cung cấp cho ông quân bài đúng, lúc lại quân bài sai, khi ngồi ở văn phòng đợi người ta dẫn Arena đến. Ông đã bắt đầu nghĩ sang mafia và cách mafia ăn khớp với mô hình mà ông vừa phác thảo thì viên trung sĩ dẫn Mariano Arena vào.
Trước khi tới gặp đại úy, Mariano đã đòi cho thợ cạo đến. Một cảnh binh lướt dao cạo qua mặt hắn, cho hắn một khoái cảm thật sự, và giờ hắn đưa tay vuốt mặt, tận hưởng cảm giác không còn lớp râu xù như giấy nhám, vốn suốt hai ngày qua khiến hắn khó chịu hơn cả những ý nghĩ nặng nề.
– Mời ngồi – đại úy nói.
Mariano ngồi xuống, nhìn ông chằm chằm qua đôi mí nặng trĩu; ánh nhìn vô cảm ấy vụt tắt khi đầu hơi nghiêng, như thể con ngươi bật lên trên rồi lộn vào trong theo một cơ chế vô thức.
Đại úy hỏi ông ta có từng giao du với Calogero Dibella, biệt danh Parrinieddu, không. Mariano hỏi “giao du” nghĩa là gì: chỉ quen biết, thân tình, hay cùng làm ăn?
– Tùy anh chọn – đại úy đáp.
– Sự thật chỉ có một, chẳng có gì để chọn: chỉ là quen biết nhau tí thôi.
– Và anh thấy Dibella thế nào?
– Cũng chững chạc. Trước đây còn trẻ dính vài lỗi nhỏ, nhưng giờ tôi thấy hắn đi đứng ngay thẳng.
– Hắn làm việc chứ?
– Sếp biết rõ hơn tôi.
– Tôi muốn nghe từ chính anh.
– Nếu nói “làm việc” theo nghĩa cầm cuốc, như cha hắn đã hướng cho hắn, thì Dibella chẳng hơn gì sếp với tôi… Có thể hắn làm bằng đầu óc.
– Và theo anh, hắn dùng đầu óc làm gì?
– Tôi không biết, cũng không muốn biết.
– Tại sao?
– Vì tôi chẳng quan tâm. Hắn đã đi đường hắn, tôi đã đi đường tôi, thế thôi.
– Sao anh nói “đi” ở thì quá khứ?
– Vì hắn đã bị giết… Tôi biết chuyện ấy trước khi lính cảnh binh của sếp đến nhà tôi chừng một tiếng.
– Thực ra chính Dibella đã khiến họ đến nhà anh.
– Sếp tính làm tôi rối trí à?
– Không, tôi sẽ cho anh xem thứ Dibella viết chỉ vài giờ trước khi chết – rồi đưa ra bản sao bức thư.
Mariano cầm lấy, giơ ra xa hết tầm tay. Hắn nói mình nhìn xa rất rõ.
– Anh nghĩ sao? – đại úy hỏi.
– Chẳng nghĩ gì – Mariano trả lại tờ giấy.
– Chẳng gì hết?
– Chẳng nghĩ gì nghĩa là chẳng gì hết.
– Anh không thấy đây là một lời buộc tội sao?
– Buộc tội? – Mariano ngạc nhiên. – Tôi chỉ thấy một tờ giấy có tên tôi trên đó.
– Còn một cái tên khác nữa.
– Đúng, Rosario Pizzuco.
– Anh có biết hắn không?
– Tôi biết cả cái làng này.
– Nhưng Pizzuco thì sao, biết rõ không?
– Không rõ, cũng sơ sơ như bao người khác thôi.
– Anh không làm ăn với Pizzuco?
– Cho phép tôi hỏi lại: sếp nghĩ tôi làm ăn gì?
– Nhiều thứ, đủ kiểu.
– Tôi chẳng buôn bán gì, sống bằng tiền lời đất đai thôi.
– Bao nhiêu đất?
– Hai mươi hai “salme” tức khoảng chín mươi hecta.
– Đất ấy lời lãi khá chứ?
– Không phải năm nào cũng vậy, mà còn tùy mùa vụ.
– Trung bình một hecta đất của anh có thể mang lại bao nhiêu thu nhập?
– Một phần lớn đất của tôi để hoang, cho chăn thả… Vì thế tôi không thể nói rõ thu nhập tính theo hecta của đất bỏ hoang ấy mà chỉ có thể nói số tiền thu từ đàn cừu… Khi xén lông và bán thịt, chừng nửa triệu… Còn lại thì tùy mùa vụ: lúa mì, đậu tằm, hạnh nhân, dầu ô liu…
– Vậy số đất canh tác là bao nhiêu hecta?
– Năm mươi đến sáu mươi hecta.
– Thế thì để tôi nói cho anh biết thu nhập mỗi hecta: không dưới một triệu.
– Sếp đùa đấy à.
– Không, chính anh mới là người đùa… Bởi anh vừa nói với tôi rằng ngoài đất đai, anh không có nguồn thu nhập nào khác, không tham gia vào công nghiệp hay thương mại… Và tôi tin điều đó. Cũng vì thế, tôi cho rằng số năm mươi tư triệu mà năm ngoái anh gửi vào ba ngân hàng khác nhau, không có dấu vết rút từ các khoản gửi trước đây ở những ngân hàng khác, hoàn toàn là lợi tức từ đất đai của anh. Một triệu mỗi hecta, đúng không?… Tôi cho anh hay, một chuyên gia nông nghiệp mà tôi hỏi ý kiến đã kinh ngạc tột độ, bởi theo ông ấy, ở vùng này không một mảnh đất nào có thể cho thu nhập ròng vượt quá một trăm nghìn lire mỗi hecta. Theo anh ông ấy nhầm sao?
– Không nhầm – don Mariano đáp, giọng trầm xuống.
– Vậy là ta đã khởi đầu sai hướng… Hãy quay lại: nguồn thu nhập của anh thực sự đến từ đâu?
– Chẳng cần quay lại gì cả, tiền của tôi, tôi dùng thế nào là quyền của tôi… Tôi chỉ nói thêm cho rõ: không phải lúc nào tôi cũng để tiền trong ngân hàng; đôi khi tôi cho bạn bè vay, không giấy tờ, chỉ bằng niềm tin… Năm ngoái, toàn bộ số tiền tôi cho vay đều quay về, và tôi gửi những khoản đó vào ngân hàng…
– Nơi đã có sẵn các khoản đứng tên anh và tên con gái anh…
– Một người cha có bổn phận nghĩ đến tương lai của con cái.
– Hoàn toàn đúng, và anh đã bảo đảm cho con gái mình một tương lai sung túc… Nhưng tôi không biết liệu con gái anh có thể biện minh cho những gì anh đã làm để đem lại sự giàu có ấy không… Tôi biết hiện giờ cô ấy đang ở một trường nội trú đắt đỏ và danh tiếng tại Lausanne… Tôi hình dung khi bố con anh gặp lại, cô ấy sẽ rất khác: dịu dàng, thương cảm những gì anh khinh thường và kính trọng những gì anh không coi trọng…
– Đừng nhắc đến con gái tôi – don Mariano nói, co rút lại trong một cơn giận dữ đau thắt. Rồi hắn thả lỏng, như để tự trấn an: – Con gái tôi giống tôi.
– Giống anh ư?… Tôi mong là không. Hơn nữa, chính anh đang làm mọi cách để con gái mình không giống anh, để cô ấy khác biệt… Và khi anh không còn nhận ra con gái mình nữa, bởi cô ấy đã thay đổi hoàn toàn, đó sẽ là cái giá anh phải trả cho sự giàu có được xây dựng trên bạo lực và lừa lọc…
– Sếp đang giảng đạo cho tôi đấy à.
– Anh có lý… Giảng đạo thì anh nghe ở nhà thờ, còn ở đây anh muốn gặp cảnh sát. Phải, anh có lý… Vậy ta nói chuyện con gái anh ở khía cạnh khác: số tiền anh chi cho cô ấy, số tiền anh tích cóp đứng tên cô ấy… rất nhiều, vô cùng nhiều, và nguồn gốc, xem nào, vô cùng mờ mịt… Đây, bản sao các hồ sơ mở tài khoản, đứng tên anh và con gái anh, lưu tại các ngân hàng. Như anh thấy đấy, chúng tôi không chỉ tìm ở chi nhánh địa phương, mà còn dò đến tận Palermo… Rất nhiều, vô cùng nhiều tiền. Anh có thể giải thích nguồn gốc của chúng không?
– Còn sếp? – don Mariano hỏi, giọng vẫn điềm tĩnh.
– Tôi sẽ thử, bởi trong số tiền mà anh tích lũy một cách bí ẩn, cần phải tìm nguyên nhân của những vụ án mạng mà tôi đang điều tra, và những nguyên nhân ấy phải được làm sáng tỏ trong hồ sơ buộc tội anh với vai trò kẻ chủ mưu… Tôi sẽ thử… Nhưng với cơ quan thuế, anh nhất định phải giải trình, và chúng tôi sẽ gửi những dữ liệu này cho họ…
Don Mariano nhún vai, tỏ vẻ thờ ơ.
– Chúng tôi còn có bản sao tờ khai thu nhập và giấy thông báo thuế của anh: anh khai một mức thu nhập…
– Bằng tôi – viên trung sĩ xen vào.
– … và số thuế phải đóng…
– Còn ít hơn tôi – viên trung sĩ tiếp.
– Thấy chưa? – đại úy nói – Có nhiều điều cần làm rõ, và anh phải giải thích…
Don Mariano lại nhún vai, thờ ơ như trước.
“Đây chính là chỗ cần phải bấu vào” – đại úy nghĩ – “Vô ích khi tìm cách buộc tội hình sự một người như thế này, vì sẽ chẳng bao giờ đủ bằng chứng, khi sự im lặng của cả người lương thiện lẫn kẻ bất lương sẽ luôn che chở hắn. Và cũng vô ích, thậm chí nguy hiểm, khi nghĩ đến chuyện đình chỉ quyền hiến định. Một ‘Mori’ mới sẽ lập tức thành công cụ chính trị phe phái. Đó không phải cánh tay của chế độ, mà là của một nhóm trong chế độ: nhóm Mancuso–Livigni hay nhóm Sciortino–Caruso. Ở đây, phải bắt quả tang người ta trong ổ vi phạm thuế vụ, như ở Mỹ. Nhưng không chỉ với những kẻ như Mariano Arena, và không chỉ ở Sicilia này.”
“Cần phải bất ngờ đột kích vào các ngân hàng, cho những bàn tay lão luyện rà soát sổ sách – thứ kế toán hai lớp quen thuộc của các công ty lớn nhỏ, đồng thời rà lại toàn bộ hồ sơ địa chính. Và tất cả những con cáo già, cáo non đang phí hoài khứu giác vào chuyện theo dõi ý tưởng chính trị, xu hướng hay những cuộc gặp gỡ của vài phần tử bồn chồn nhất trong cái “đại gia đình” gọi là chế độ, và rình mò hàng xóm hay kẻ thù của gia đình ấy, tốt hơn hết là nên chuyển sang đánh hơi quanh những biệt thự, những siêu xe, những bà vợ, những tình nhân của một số viên chức, rồi so đối những dấu hiệu giàu sang ấy với mức lương của họ và rút ra ý nghĩa thật sự. Chỉ khi đó, những kẻ như don Mariano mới bắt đầu mất chỗ đứng dưới chân… Ở bất kỳ nước nào khác, một vụ trốn thuế như mình đang thấy sẽ bị trừng trị nặng nề; còn ở đây, don Mariano chỉ cười nhạt, biết rằng chỉ cần đảo lộn giấy tờ là đủ che giấu tất cả.”
– Có vẻ như cơ quan thuế không nằm trong mối bận tâm của anh.
– Tôi chẳng bận tâm đến điều gì – don Mariano đáp gọn lỏn.
– Vì sao?
– Tôi dốt, nhưng có vài điều tôi biết cũng đủ: thứ nhất, dưới mũi chúng ta là cái miệng – để ăn, hơn là để nói…
– Tôi cũng có cái miệng – đại úy nói – nhưng tôi chỉ ăn thứ mà các anh ở Sicilia gọi là “bánh mì của chính phủ”.
– Tôi biết. Nhưng sếp là một con người.
– Còn trung sĩ? – đại úy liếc sang D’Antona.
– Không biết – Mariano đáp, soi mói viên trung sĩ bằng ánh nhìn khiến đối phương khó chịu.
Rồi hắn chậm rãi nói tiếp:
– Tôi hiểu đời. Cái mà người ta gọi là “nhân loại”, một từ đẹp đẽ nhưng rỗng tuếch, tôi chia làm năm hạng: con người, bù nhìn, tiểu nhân, hèn mạt, và cặn bã… Con người thì hiếm, bù nhìn cũng ít, mà kể ra nếu nhân loại chỉ dừng ở đó thôi thì tôi đã mãn nguyện… Nhưng không, nó rơi xuống mức “tiểu nhân”, đó là lũ trẻ tưởng mình đã lớn, như khỉ bắt chước người… Xuống nữa là bọn hèn mạt, ngày càng đông như kiến cỏ… Và thấp nhất là cặn bã, lẽ ra nên sống chung với vịt dưới ao, vì đời chúng chẳng khác gì đời vịt… Cả khi sếp có đóng đinh tôi lên những tờ giấy này như Đấng tối cao bị hành hình, sếp vẫn là con người…
– Cả anh cũng vậy – đại úy đáp, hơi xúc động. Nhưng ngay sau đó, ông thấy bối rối: chẳng khác nào mình vừa bắt tay một trùm mafia. Để tự bào chữa, ông nhớ rằng mình đã từng bắt tay bộ trưởng Mancuso và nghị sĩ Livigni trong ngày hội quốc gia, giữa kèn trống và cờ quạt; và so với họ, don Mariano quả thực có ưu thế: hắn là con người. Ngoài đạo đức và luật pháp, ngoài cả lòng trắc ẩn, hắn là một khối năng lượng con người chưa được cứu rỗi, một khối cô độc, một ý chí mù lòa và bi thảm. Như một kẻ mù tự vẽ lại trong đầu cái thế giới mờ tối của đồ vật, Mariano tái tạo cho riêng mình thế giới của tình cảm, luật lệ và những mối quan hệ giữa người với người. Và hắn có thể biết gì khác hơn, khi quanh đời hắn, tiếng nói của công lý luôn bị bóp nghẹt bởi bạo lực, còn cơn gió của thời cuộc chỉ làm đổi màu những từ ngữ trên một hiện thực bất động và mục rữa?
– Vì sao tôi là con người, chứ không phải bù nhìn hay cặn bã? – đại úy đanh giọng hỏi.
– Vì – Mariano đáp – ở vị trí của sếp, rất dễ giẫm đạp lên mặt một con người. Nhưng sếp lại biết tôn trọng. Còn những kẻ từng ở vị trí của sếp hay trung sĩ kia, nhiều năm trước đã xúc phạm tôi còn hơn cả bức tử, một sĩ quan tát vào mặt tôi; dưới phòng tạm giam, một thượng sĩ dí xì gà đỏ lửa vào lòng bàn chân tôi và cười sặc sụa… Bị sỉ nhục như thế, liệu còn ngủ yên được nữa không?
– Thế ra tôi không xúc phạm anh?
– Không. Sếp là con người.
– Và anh cho là con người thì được phép giết, hoặc cho giết một người khác?
– Tôi chưa bao giờ làm điều đó. Nhưng nếu hỏi cho vui, rằng có công bằng không khi tước mạng một người, thì tôi nói: trước hết phải xem kẻ ấy có phải là con người hay không…
– Dibella là con người?
– Hắn là đồ cặn bã – Mariano khinh bỉ nói. Lời đã buột ra khỏi miệng, không thể gọi về như gọi chó.
– Anh có lý do đặc biệt để gắn cho hắn cái mác đó?
– Không. Tôi chỉ biết sơ sơ.
– Thế mà anh nhận định đúng đấy, hẳn là nắm được đầu đuôi… Có lẽ anh biết hắn là chỉ điểm cho cảnh sát…
– Tôi chẳng quan tâm.
– Nhưng anh biết?
– Cả làng đều biết.
– Những nguồn tin tuyệt mật của chúng tôi… – đại úy mỉa mai và quay sang nhìn trung sĩ. Rồi ông hỏi Mariano: – Có thể đôi khi Dibella cũng “phục vụ” các bạn ông, bằng cách nhắn cho chúng tôi vài tin?
– Không biết.
– Nhưng khoảng mười ngày trước, hắn để lộ một thông tin chính xác, ngay tại căn phòng này, đúng chỗ anh đang ngồi… Anh biết chuyện đó thế nào không?
– Tôi không biết. Mà có biết cũng chẳng giận dữ hay run sợ.
– Có thể hắn tìm đến anh, thú nhận sai lầm vì ân hận?
– Hắn chỉ biết sợ, chứ không biết hối hận. Và chẳng có lý do gì để tìm tôi.
– Còn anh, anh có biết hối hận không?
– Không. Cũng không biết sợ. Chưa bao giờ.
– Nghe nói anh rất mộ đạo.
– Tôi đi nhà thờ, gửi tiền cho trại trẻ mồ côi…
– Anh nghĩ thế là đủ?
– Đủ chứ. Giá trị của Giáo hội là ai cũng có thể ở trong đó theo cách của riêng mình.
– Anh chưa bao giờ đọc Phúc Âm?
– Tôi nghe đọc mỗi Chủ nhật.
– Anh thấy thế nào?
– Lời hay ý đẹp. Cả Giáo hội là một vẻ đẹp.
– Với anh, tôi thấy cái đẹp chẳng liên quan gì đến sự thật.
– Sự thật nằm ở tận đáy giếng: sếp cúi xuống, sẽ thấy ánh mặt trời hay ánh trăng phản chiếu; nhưng nếu sếp nhảy xuống, sẽ chẳng còn mặt trời, chẳng còn mặt trăng, mà chỉ còn lại sự thật trơ trọi.
Người trung sĩ bắt đầu cảm thấy mỏi mệt. Anh thấy mình như con chó săn bị chủ dắt khắp bãi đá bỏng rát, nơi chẳng còn lấy một chút dấu vết mờ nhạt nào của con mồi. Một hành trình dài ngoằn ngoèo, lướt qua mấy cái xác rồi bất thình lình rẽ ngoặt sang hướng khác; nào là Giáo hội, nhân loại, rồi cái chết… Một cuộc trò chuyện kiểu cà phê hội quán, Chúa ơi – mà lại với một tay giang hồ!
– Anh đã từng giúp không ít người – đại uý chậm rãi nói – tìm ra sự thật ở tận đáy giếng.
Don Mariano ngước mắt lên. Đôi mắt lạnh lẽo, rắn chắc như đồng kền, nhìn xoáy vào ông. Hắn im lặng.
– Và Dibella – đại úy tiếp tục – đã chạm vào sự thật khi viết tên mình cùng tên Pizzuco…
– Chạm vào cơn điên thì có, chứ sự thật gì.
– Ông ta không điên… Tôi đã gọi ông ta đến ngay sau cái chết của Colasberna, lúc ấy tôi đã nhận được vài thông tin nặc danh cho phép liên kết vụ giết người với một số lợi ích nhất định… Tôi biết Colasberna từng bị dụ dỗ, đe dọa, thậm chí bị bắn chỉ để cảnh cáo; nên tôi hỏi Dibella có thể cho tôi biết ai là kẻ đã làm những việc đó. Ông ta hoang mang, nhưng vẫn tỉnh táo để không chỉ ra một cái tên duy nhất và thay vào đó là hai cái tên, mà một trong hai, như sau này tôi xác thực, là để đánh lạc hướng. Nhưng tôi muốn bảo vệ ông ta, cũng không thể bắt cả hai cùng lúc, và cần chọn một mục tiêu chắc chắn, vì hai người đó thuộc hai băng nhóm đối địch, và một trong hai chắc chắn vô can: hoặc La Rosa, hoặc Pizzuco. Trong lúc đó, báo cáo về vụ mất tích của Nicolosi được gửi đến. Và tôi nhận ra một vài trùng hợp lạ thường… Trước khi mất tích, Nicolosi cũng để lại một cái tên. Chúng tôi lần ra Diego Marchica – chắc anh biết hắn – và hắn thú nhận…
– Diego à? – Don Mariano bật ra, giọng đầy ngờ vực.
– Diego – đại uý gật đầu, rồi bảo trung sĩ đọc bản thú tội.
Don Mariano nghe, tiếng thở khò khè như người bị hen suyễn; nhưng không phải bệnh, mà là cơn giận dữ.
– Như anh thấy, Diego đã dẫn chúng tôi đến Pizzuco mà chẳng cần thúc ép; và từ Pizzuco, lại dẫn đến anh…
– Tôi thì kể cả Chúa cũng không đưa các sếp đến được – Don Mariano nói chắc như đinh đóng cột.
– Anh quý Pizzuco lắm thì phải? – đại uý hỏi.
– Tôi chẳng quý ai, nhưng tôi biết rõ từng người.
– Tôi không muốn làm anh thất vọng về Pizzuco, nhất là khi Diego vừa khiến anh thất vọng lớn.
– Hắn là đồ khốn – Don Mariano nói, khuôn mặt méo mó vì ghê tởm; một khoảnh khắc hiếm hoi của sự chao đảo.
– Anh không thấy mình hơi bất công sao? Diego chưa từng nhắc đến anh.
– Tôi thì liên quan gì?
– Nếu không liên quan, sao anh lại bực?
– Tôi không bực: tôi tiếc cho Pizzuco. Hắn là người đàng hoàng… Thấy chuyện bỉ ổi, tôi khó chịu.
– Anh có thể thề rằng những lời Marchica buộc tội Pizzuco là hoàn toàn bịa đặt?
– Tôi chẳng thề được gì: một tờ hối phiếu trị giá một xu còn chẳng có.
– Nhưng anh không tin rằng Pizzuco có tội?
– Tôi không tin.
– Nếu chính Pizzuco thú nhận, và gọi anh là tòng phạm?
– Tôi sẽ nói rằng hắn mất trí.
– Không phải anh giao cho Pizzuco việc “giải quyết” Colasberna, dù bằng lời lẽ hay vũ lực?
– Không.
– Anh không có phần hùn trong các công ty xây dựng?
– Tôi á? Có mà mơ.
– Không phải anh đã tiến cử công ty Smiroldo cho một gói thầu lớn, mà họ trúng nhờ những cách thức tối thiểu cũng phải gọi là bất thường, nhờ sự giới thiệu của anh?
– Không… Có… nhưng tôi giới thiệu hàng ngàn trường hợp.
– Giới thiệu dạng gì?
– Đủ loại: thầu công trình, việc ngân hàng, giấy tốt nghiệp, trợ cấp…
– Anh gửi giới thiệu cho ai?
– Cho bạn bè có thể giúp được việc.
– Nhưng thường là ai?
– Là người thân nhất, và người có thể giúp nhiều nhất.
– Anh không nhận chút lợi lộc hay lời cảm ơn nào sao?
– Tôi nhận được tình bạn.
– Thỉnh thoảng thì sao?
– Thỉnh thoảng, dịp Giáng sinh, họ tặng tôi bánh cassata.
– Hoặc một tấm séc. Kế toán Martini của hãng Smiroldo nhớ một tấm séc lớn ghi tên anh, do kỹ sư Smiroldo ký, tấm séc đó qua tay anh… Có thể đó là lời cảm ơn vì gói thầu lớn, hoặc công ty được anh giúp việc khác?
– Tôi không nhớ, cũng có thể là tiền trả lại.
– Chúng tôi sẽ bắt kỹ sư Smiroldo, vì anh không nhớ.
– Hay đấy, thế thì tôi đỡ phải cố nhớ… Tôi già rồi, trí nhớ đôi khi vấp váp.
– Tôi có thể nhờ trí nhớ của anh về một việc gần đây hơn?
– Thử xem.
– Gói thầu làm đường Monterosso–Falcone. Ngoài việc anh đã xoay được nguồn tài trợ cho một con đường hoàn toàn vô dụng, cho một tuyến bất khả thi, điều này được chứng minh bằng việc cái tên của anh được ngợi ca trong bài báo của một phóng viên địa phương. Ngoài ra, công ty Fazello có phải nhờ anh mà trúng thầu không? Chính Fazello nói thế, và tôi không nghĩ ông ta có lý do nói dối.
– Ông ta chẳng có lý do.
– Và anh ta đã bày tỏ lòng biết ơn bằng hình thức nào?
– Sao lại không chứ? Ông ta đến đây gieo rắc câu chuyện đã trả tôi đủ, lại còn kèm thêm một khoản nữa.


![[Một giấc mơ của lão già xứ Amalfi]](https://viola.vn/wp-content/uploads/2025/08/Lisola-di-Arturo.jpeg)
